Muốn tính đúng phải vẽ đường đi dây rồi cộng chiều dài từng đoạn. Không dùng một hệ số cố định cho mọi mái; luôn cộng phần nối, căn chỉnh và dự phòng theo phương án thi công.

Gửi Phi dây, tổng số mét, ảnh hệ kéo và địa chỉ nhận hàng để Hùng Cường Auto đối chiếu đúng sản phẩm và chốt chi phí giao.
Hotline: 039 2323 173Zalo: 039 2323 173Cách chắc chắn nhất là vẽ sơ đồ rồi đánh số từng đoạn dây giữa hai điểm đổi hướng. Đo hoặc tính từng đoạn, cộng toàn bộ nhánh đi và nhánh về, sau đó mới cộng phần buộc nối, căn chỉnh và dự phòng. Không lấy riêng chiều dài ray nhân một hệ số nếu chưa xác định đường dây thực tế.
Nếu còn dây cũ nguyên vẹn, đo dây cũ để đối chứng nhưng không kéo căng quá mức. Nếu không có bản vẽ, chụp từng puly theo thứ tự và đánh dấu hướng đi trên ảnh. Kết quả cuối nên được một người khác rà lại trước khi cắt, vì thiếu một nhánh hoặc tính trùng đoạn sẽ làm sai cả vòng.
Rãnh puly cần ôm dây vừa đủ, đáy tròn, bề mặt sạch và không có ba via. Rãnh quá hẹp ép/cắt lớp bện; rãnh quá rộng làm dây chạy không ổn định. Puly phải quay nhẹ, đúng trục và có bán kính uốn phù hợp, vì dây liên tục bị bẻ gập ở bán kính nhỏ sẽ mỏi nhanh dù vật liệu còn mới.
Chia sơ đồ tại mọi điểm đổi hướng: đầu neo, puly dẫn hướng, cụm kéo, điểm nối và đoạn vòng về. Gọi chiều dài các đoạn là L1, L2…Ln; tổng chiều dài hình học là L1 + L2 + … + Ln. Đo theo tim đường dây, không đo đường thẳng tắt qua góc puly.

Đo đường kính bằng thước kẹp tại ít nhất ba vị trí trên đoạn không chịu lực, đặt lực kẹp vừa đủ để không làm bẹp dây. Cân một chiều dài mẫu đã biết hoặc đối chiếu cuộn nguyên để tính kg/m và mét/kg. Ghi thiết bị, đơn vị, điều kiện đo và sai số dự kiến để kết quả có thể kiểm tra lại.
Đo chiều dài ray hữu dụng, khoảng cách giữa các ray và vị trí cụm kéo so với hai đầu mái. Ghi riêng phần ray nằm ngoài vùng bạt nếu dây vẫn đi qua đó. Với mái không vuông, đo từng ray thay vì dùng một số chiều dài chung.
Diện tích mái giúp ước lượng quy mô nhưng không đủ để chọn Phi. Hai mái cùng diện tích có thể khác số ray, chiều dài tuyến, số lần đổi hướng, ma sát bánh xe và tần suất sử dụng. Cần ghi chiều dài–chiều rộng, số ray, số puly, kiểu kéo tay/motor và cỡ dây cũ nếu còn nhận diện được.
Công thức tổng quát: L mua = (ΣLi + L nối + L căn chỉnh) × (1 + tỷ lệ dự phòng). ΣLi là tổng các đoạn theo sơ đồ; phần nối phụ thuộc kiểu nối và vị trí thao tác. Chỉ cộng dự phòng sau khi đã cộng đủ nhánh đi, nhánh về và đoạn chuyển hướng.
Không mặc định hệ hai ray chỉ cần hai lần chiều dài mái. Một số hệ dùng một vòng chung, một số dùng hai vòng hoặc thêm đoạn ngang qua trục kéo. Vẽ mũi tên từ điểm nối, đi lần lượt qua từng puly rồi quay về điểm xuất phát để không bỏ sót đoạn.
Với mái nhỏ, ưu tiên dây tương thích puly và thao tác nhẹ; không mặc định chọn cỡ lớn. Với mái dài, nhiều ray hoặc vận hành thường xuyên, cần xem đồng bộ toàn bộ truyền động, không chỉ tăng đường kính dây. Bảng gợi ý chỉ là bước sàng lọc trước khi kiểm tra hiện trạng.

Ảnh hữu ích phải cho thấy được bối cảnh: toàn cuộn, nhãn, điểm đo, thước kẹp và bề mặt bện. Ảnh cận không có thước hoặc mã lô chỉ giúp minh họa, không đủ xác định Phi. Video nên quay chậm toàn tuyến và dừng tại puly, điểm nối, ray để dễ chẩn đoán.
Ví dụ sơ đồ đã đo có nhánh đi 8 m, nhánh về 8 m, các đoạn qua cụm kéo và đổi hướng cộng 2,5 m. Chiều dài hình học là 18,5 m. Nếu phần nối/căn chỉnh cần 1,5 m và chọn dự phòng 10%, lượng đặt dự kiến là (18,5 + 1,5) × 1,10 = 22 m. Đây là ví dụ phương pháp, không phải hệ số cho mọi mái.
Với mái bốn ray, lập bảng riêng cho từng vòng: vòng A gồm A1…An, vòng B gồm B1…Bn. Nếu hai vòng dùng hai đoạn dây độc lập, cộng dự phòng và làm tròn riêng từng đoạn; không gộp tổng rồi cắt ước lượng. Ghi rõ đầu nào thuộc ray nào để tránh đảo dây khi lắp.
Dự phòng bù sai số đo, phần thao tác nối và căn chỉnh tại công trình; không dùng để che việc chưa vẽ đủ đường dây. Tỷ lệ phù hợp tùy độ phức tạp, số điểm đổi hướng và khả năng đo trực tiếp. Ghi cả mét dự phòng tuyệt đối để người cắt hiểu rõ.
Xác định kiểu nút, kẹp hoặc mối nối trước khi chốt mét vì mỗi kiểu cần chiều dài đầu dư khác nhau. Chừa đủ để thao tác ngoài vùng puly và không đặt nút tại đoạn thường xuyên qua rãnh. Sau chạy thử, phần đầu dư chỉ được cắt khi hệ đã cân và hành trình đạt.
Nếu cần dự trữ sửa chữa, tách rõ “mét lắp mới” và “mét dự trữ” trên phiếu cắt. Đoạn dự trữ nên cùng Phi, vật liệu và lô với dây lắp; ghi nhãn, cuộn khô và tránh nhầm với phần dư không rõ chiều dài.

Quan sát độ đều của lớp bện, sợi đứt, nút nối, độ ẩm, méo cuộn và tình trạng lõi. Một cuộn đạt về đường kính nhưng chênh khối lượng đáng kể cần được xác minh; ngược lại, sai khác nhỏ có thể đến từ dung sai bện và độ ẩm. Đơn lớn nên duyệt mẫu hoặc ảnh đo của đúng lô trước khi giao.
Tên file, alt text và caption cần mô tả đúng vật thể, không gán sai Phi. Khi dùng ảnh làm căn cứ đơn hàng, lưu bản gốc có thời gian và ghi lô; tránh dùng lại ảnh cũ cho một lô mới nếu chưa kiểm tra. Hình trên bài là ảnh tham khảo, thông số giao nhận căn cứ báo giá và xác nhận lô.
Kiểm tra bằng cách quay puly khi không tải, quan sát dây ở cả hai mép rãnh và đánh dấu vị trí có bụi sợi. Bụi sợi tập trung, tiếng rít hoặc mòn một bên thường cho thấy lệch trục, ổ bi kẹt hoặc đường dây không thẳng. Sửa nguyên nhân cơ khí trước khi thay dây mới để lỗi không lặp lại.
Công cụ ở đầu bài cộng ba nhóm số đo và tỷ lệ dự phòng. Hãy nhập tổng đã đo theo sơ đồ, không nhập chiều dài mái thay cho tổng đường dây. Kết quả là dự toán để kiểm tra chéo; phiếu cắt cuối cùng phải dựa trên sơ đồ đã được thợ xác nhận.
“Tổng nhánh đi” và “tổng nhánh về” là tổng các đoạn thực tế theo hai chiều của vòng. “Đoạn chuyển hướng/phụ” gồm khoảng từ ray đến cụm kéo, đoạn ngang hoặc đoạn neo chưa nằm trong hai nhóm đầu. Nhập bằng mét và giữ cùng một đơn vị.
Giá phải được đọc cùng số lượng và điều kiện giao. Bảng hiện hành tách giá bán lẻ với các mốc buôn từ 600 m, 1.000 m, 3.000 m, 5.000 m và trên 10.000 m; từng Phi có đơn giá khác nhau. Đơn giá công bố là tại xưởng và chưa gồm phí vận chuyển. Khách cần gửi cơ cấu số mét theo từng Phi để được áp đúng mốc.

Đọc tiếp cách luồn dây kéo bạt xếp, chọn puly cho dây kéo bạt và dây dù Phi 8 để đối chiếu cách đi dây, độ tương thích puly và sản phẩm trước khi chốt.
Không bắt buộc nếu có sơ đồ đường dây và số đo từng đoạn. Dây cũ còn nguyên giúp đối chứng, nhưng cần lưu ý dây có thể đã giãn và không nên dùng chiều dài cũ làm số duy nhất.
Dự phòng bù phần nối, căn chỉnh và sai số thi công. Hãy ghi rõ số mét lắp, số mét dự phòng và số mét dự trữ; không dùng tỷ lệ dự phòng để thay cho việc đo đủ các nhánh.
Cùng nguyên tắc cộng từng đoạn, nhưng có thể có nhiều vòng hoặc nhánh độc lập hơn. Cần vẽ riêng từng vòng, cộng và cắt riêng nếu chúng không dùng chung một đoạn dây.
Chụp từng puly theo thứ tự, đánh dấu mũi tên đường đi, đo theo tim dây giữa các điểm đổi hướng và lập bảng L1…Ln. Nhờ thợ lắp rà lại sơ đồ trước khi chốt cắt.
Liên hệ Hotline 039 2323 173 hoặc Zalo 039 2323 173. Kho thường xuyên có hàng; đơn lớn cần xác nhận số lượng và lịch giao.
Hotline: 039 2323 173Zalo: 039 2323 173Biên soạn: Content Hùng Cường Auto · Duyệt sản phẩm/giá: Bộ phận Kho & Kinh doanh · Hotline 039 2323 173.